Sunday, June 26, 2011

ĐỌC LẠI "PHÍA TÂY KHÔNG CÓ GÌ LẠ"



Tôi quyết định đọc lại “Phía Tây không có gì lạ” khi nhìn thấy Bảo Ninh được trao giải thưởng Nikkei về văn học tại Nhật. Cuối cùng, sau 20 năm, một tác phẩm văn học được lên án, gọi tên và chỉ mặt cuối cùng cũng được an phận trở về là chính những trang sách đơn giản bên trong nó.


Remaque viết một quyển truyện nhỏ, kể về vài anh lính ở trên mặt trận của thời chiến tranh thế giới thứ I. Đó là các cậu trai mười tám, hai mươi tuổi đang ngồi trong lán và hớn hở chờ đợi một suất ăn kép, với đậu trắng hầm thịt, xúc xích, thuốc lá. Khẩu phần kép ấy có được vì 70 người của đội hai đã bị rơi vào một ổ phục kích của quân Anh, và ko còn một mống quay về.

Chỉ chừng ấy thôi, những chàng trai đang hớn hở cãi nhau và giành đồ ăn với tay bếp trưởng đã có thể ngửi được mùi của một cuộc chiến tranh – mà đôi khi ở đó, cái chết của một đồng đội là cách kéo dài sự sống của bản thân thêm một ngày nữa.


Trong “Phía tây ko có gì lạ”, Remaque định nghĩa lại những thái cực của anh hùng, sự dũng cảm, sức mạnh, sự hèn nhát... bằng một thứ định lượng thực tế có thể chạm vào được. Ông cắt nghĩa 10 tuần huấn luyện quân sự, các chàng trai sẽ học cách liệng Goethe hay Schopenhauer xuống đất để học cách cầm một khẩu súng. Nơi các bài học được định nghĩa trên những gã Căngtorec luôn cao giọng về đường lối, sự trưởng thành, tương lai, lí tưởng và sau đó được hiện thực hóa thành những buổi cọ nhà xí từ sáng đến khuya, những buổi căng thân ra chịu phạt ngoài trời chỉ vì một thằng sĩ quan cao hơn cảm thấy ngứa mắt vì anh lính trẻ.

Các bài học được đo lường lại. Và rồi tuổi hai mươi bị ném ra mặt trận. “...khái niệm về một thử quyền lực mà họ đại diện, chỉ là một sự sáng suốt hơn và một sự hiểu biết nhân đạo hơn. Vậy mà khi chúng tôi nhìn thấy người đầu tiên gục chết thì niềm tin tưởng ấy đã tiêu tan”.


Họ vẫn còn viết, vẫn còn nói, nhưng chúng tôi, chúng tôi trông thấy những trạm quân y, những người hấp hối. Trong khi đối với họ, phụng sự quốc gia là giá trị cao cả nhất, chúng tôi đã hiểu rằng cái sợ chết còn mạnh hơn nhiều.” –Những người lớn, sĩ quan, chỉ huy nói với họ về chiến tranh và ý nghĩa vô tiền khoáng hậu của nó. Các sự kì vĩ khác chưa xuất hiện. Nhưng trước mắt chàng trai trẻ vừa vào lính, cái chết của người bạn Kemơrich là dấu chấm cuối cùng bẻ gẫy tất cả sự trẻ trung của anh khi tuổi xuân vẫn đang hừng hực bùng lên trước trận chiến.

Người bạn của nhân vật “tôi” từ thuở thiếu thời, tên Kemơrich, bị cưa một chân. Anh chàng nằm chờ chết trong lán quân y. Khi những người bạn đến thăm, sự tàn nhẫn bủa vây linh hồn họ khi họ nhận ra thứ duy nhất đem lại ý niệm cho họ là Kemơrich có một đôi giày cực kì tốt, và nó ko cần đôi giày đó nữa, nó sắp chết rồi. Muylơ ngỏ ý xin đôi giày. Sự ngỏ lời chân thành đến tàn bạo. Nó vừa khẳng định một sự trung thực giản đơn của một chàng trai trẻ - vốn biết chắc thần chết đã đu bám vào linh hồn của bạn mình và chực chờ sẵn – đôi giày kia không còn cần thiết với cái chân đã bị cắt cụt nữa.


Những cơn đau u ám phủ lên ý nghĩ của người viết: “Tôi nhìn bàn tay nó mà ái ngại. Chẳng khác gì bằng sáp: cáu ghét ở chiến hào đóng đầy cả kẽ móng tay, đen kịt lại, như màu thuốc độc. Tôi nghĩ rằng trong khi Kemơrich dã tắt thở từ lâu thì những cái móng tay này vẫn tiếp tục mọc, giống như một thứ cây mọc ngầm, kỳ quái. Tôi tưởng như nhìn thấy trước mắt, chúng đang xoắn lại thành hình trôn ốc, và vẫn mọc, đồng thời với đám tóc trên cái sọ đang thối rửa - như cỏ trên một miếng đất màu mỡ, hệt như cỏ vậy. Sao lại có thể thế được nhỉ?


Sao lại có thể như thế được nhỉ?” là một câu hỏi xuất hiện chỏng chơ và gãy gọn ở nhiều đoạn viết. Nó báo hiệu một cảm giác nhạt màu yếu ớt của nhà văn, trong cách ông dần đồng bộ hóa mình với cuộc chiến, với các cái vô lí chăng dày ra trước mắt như thể một chuyện bình thường. Chàng trai trẻ van xin y tá tiêm cho cậu bạn một mũi giảm đau –và phải chi ra mấy điếu thuốc cho mũi chích đó. Chàng trai hét vào mặt bác sĩ trong cơn hoảng loạn để nhận được câu trả lời: “Làm thế nào mà hiểu được. Ngày hôm nay tôi cưa những năm cái chân .”, và “Hết cưa lại đến cắt: suốt từ năm giờ sáng đến giờ đấy anh bạn ạ, mình nói thật cậu biết, riêng ngày hôm nay thêm mười sáu người chết. Cái thằng của cậu đây là thứ mười bảy. Nhất định là phải đến hai chục.


Cuộc chiến hóa thành các phép đếm. 150 phần ăn và 80 chục thằng còn sống. Thế là mỗi thằng một khẩu phần kép. Thêm 1 thằng chết nữa là 17 đứa. Và sự sống của họ, được những thằng chính trị viên như lão Căngtorec ngợi ca là “tuổi trẻ gang thép”. Tuổi hai mươi của tất cả họ đều chưa kết thúc, nhưng như Kemơrich, Muylơ, Jađơn, nhà văn, các tuổi trẻ đã được chôn xuống nấm mồ như một khúc ca sặc mùi tang ma cho thời gian ngừng lại.


Cuộc chiến của họ, dù mang bao nhiêu ý nghĩa chăng nữa, đã hóa thành một sự vô nghĩa cục bộ phủ kín tâm hồn còn rất thơ ngây của những người lính ấy.

Khi những dòng văn của “Phía Tây không có gì lạ” ngừng lại, lặng lẽ phủ tiếp lên các trang viết sau đó, những ước vọng về sự sống, tình yêu, các cô gái đẹp, mặt đất có cỏ cây và hiền hòa... trở thành ảo giác gây kích thích nỗi đau buồn rơi vỡ trong tim người lính.

Khi tôi chạm dòng cuối của quyển sách, tôi nhớ được cả hình ảnh của Tạo “voi” bên quán cafe hồ Ha-le ngồi gục đầu khóc tả lại cảnh bánh xích xe tăng cán ngặt qua xác người. Tôi nhớ cái vẻ đẹp của Phương, bị bùng lên thành ngọn lửa chết khi trận pháo càn qua. Tuổi xuân của họ, lén lút hoang dâm trong những tình yêu chẳng kịp thành hình, rồi chết không kịp ngáp bên những rìa công sự. Trong lúc ấy, họ nghe tiếng chính trị viên nói về lí tưởng của một cuộc chiến cao đẹp và một lãnh tụ đường hoàng.


Các lí tưởng có mùi máu. Nhưng tuổi trẻ thì ko quan trọng. Sự đánh đổi có hương vị của điều hợp lí.


Khải Đơn

Saturday, March 12, 2011

NHỮNG KÍ ỨC DẬY HƯƠNG CAFE


Phải mất rất nhiều thời gian mới có thể định nghĩa ra cafe. Và càng khó khăn hơn, nhất là khi bạn ở Sài Gòn này.

Hãy tưởng tượng về Sài Gòn, thành phố 10 triệu dân, bé tí tẹo trong một cơn ứ đọng không gian chẳng biết bao giờ mới có thể thoát ra được. Và cũng với chừng ấy sự xô lấn, cafe ở Sài Gòn bung ra, chiếm hữu cả thành phố trong vòng tay của mình. Kẻ nào đi tìm cái thành phố này có thể lắng nghe hết hàng triệu xung đột, dây mơ rễ má và cả những quan hệ chằng chịt của con người nơi đây ở trong những quán cafe.

Hẳn là vài chục năm trước, khi những dời đổi lịch sử chưa nhuốm lên thân phận con người nơi này, cafe đã là một thứ xúc tác rất căn bản đề đời sống vận hành. Thầy đạo diễn Tường Phương kể tôi nghe hồi ông là sinh viên Văn Khoa Sài Gòn, ông hay đến quán cafe Năm Dưỡng lúc sáng sớm, chen chân với không biết bao nhiêu người khác quanh những cái ghế đẩu xếp tràn bên vỉa hè. Cafe Năm Dưỡng nằm ngay đầu con hẻm phía tay trái khi người ta rẽ từ Nguyễn Thị Minh Khai vào Nguyễn Thiện Thuật. Thầy kể: “Bà chủ quán bị hô. Nhưng miệng lúc nào cũng cười, vừa cười vừa nói bao nhiêu chuyện. Tay bà liên tục vợt vợt rồi đổ cafe ra ly cho khách.” – Ông bà già ấy đã hiện diện trong kí ức của biết bao người Sài Gòn thuở trước? Người ta nhớ cái quán có một bình cafe và cái vợt, khi nước sôi sùng sục bốc lên những trận khói nghi ngút áng mùi cafe thơm lừng đầy hưng phấn.Cafe sôi cho một ngày mới. Cafe tỏa ra cả những gợi mở về cuộc sống sung túc, đầy hấp lực của những cuộc vận động không ngừng. Cái vợt của bà chủ cafe được dùng để đổ bột cafe vào, rồi cứ thế nhúng lên nhúng xuống trong bình nước nóng. Buổi sáng gây lên những nồng nàn không cách gì phai mờ nổi trong tâm trí người ta.

Ông Hoàng Hữu Phước, một người sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, lí luận về kiểu cafe vợt ở quán Năm Dưỡng: “Cái cách pha cafe ngày ấy sau này tôi đọc trên internet mới thấy đó là một cách pha rất Tây của cowboy ngày xưa. Các anh chàng cowboy thích như vậy vì khi nấu nước lên nóng, khói tỏa ra cả phòng, mùi cafe sẽ rất ngất ngây. Và cái vị ấy không bay đi như người ta tưởng đâu, nó gây lên nồng nàn. Li cafe nhúng trọn vẹn hết bã ấy vẫn đậm đà như thường nhé.”

Một người già khác, kí giả Nguyễn Quốc Thái, phóng viên của Sài Gòn trước 1975, vẫn hào hứng với La Pagode, Givral, Brodards – “trục cafe” báo chí của Sài Gòn trong những giai đoạn quan trọng nhất của cuộc chiến tranh. Ông tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn cũng từng được gọi là “tướng Givral” khi phần lớn thời gian ông ngồi ở những trung tâm này và nhìn những dòng chảy báo chí chuyển động. Ở đây, đám kí giả phương Tây từ văn phòng trên Eden hay từ khách sạn Caravelle tràn xuống uống cafe mỗi sáng. Những bí mật chính trị được người ta tuồn qua vai nhau. Những cuộc đi đêm được chóng vánh thầm thì trong thoáng chốc khi cafe bốc lên từ những tách nóng nghi ngút khói. Sài Gòn ám mùi chiến tranh. Và Sài Gòn ám ảnh bởi hương cafe không phai đi một chút xíu nào sau chừng ấy những sóng gió.

Ở Sài Gòn này, uống cafe không còn đơn thuần là cầm một cái li lên, dốc những giọt cafe vào cổ họng và chờ đợi những cơn vui bất chợt dấy lên trong não. Uống cafe là một thái độ sống. Uống cafe là mở lòng mình ra, là sẵn sàng mỉm cười khi cafe dậy hương trước một người hoàn toàn xa lạ. Uống cafe là sẵn sàng gọi tên những câu chuyện, không giấu diếm, không lo ngại, không ẩn ức. Hãy pha những câu chuyện vào cafe, hãy để nước sánh màu đen quẫy tan những muộn phiền, thử thách các tranh luận khi đắng nghét và khoái cảm đón chờ vị ngọt phía sau khi cafe đã trôi vào tâm hồn. Người Sài Gòn sẽ không dừng các câu chuyện lại vì nó “phạm húy” một ai đó. Người Sài Gòn sẽ không im lặng khi những điều trái mắt đột nhiên băng qua khi tách cafe thoáng vị vừa chạm môi. Người Sài Gòn tổng hợp những kí ức trên trang báo thật nhiều chữ, thêm vào đó chút đường ngọt của thơ văn, hoặc đơn giản là làm cả buổi sáng mù xuống như buổi chiều rất đen tối bởi những bi quan muôn thuở không phai mờ từ ngày trước 1975.

Những người xa lạ đến nơi này hẳn sẽ không bao giờ hiểu nổi tại sao thành phố này, với biết cao con người cứ lớn thêm và sinh ra, mà không cách gì gỡ bỏ được những nỗi buồn phủ dầy trong li cafe và những phòng ca nhạc khi đêm xuống. Người ta hát những bài hát Khánh Ly từng cất giọng. Người ta nhớ từng phím đàn trong nhạc của Phạm Duy. Thậm chí, người ta dạo những khúc nhạc chính xác như những khúc dạo đầu từ ngày trước 75 có người từng chơi. Sài Gòn nhuốm màu của nỗi buồn với “Những quầy hoa quán nhạc đêm về/Còn rộn ràng giọng hát Khánh Ly”, với “Thà như giọt mưa, rớt trên tượng đá”. Quá nhiều tình yêu. Quá nhiều cuộc sống. Sẽ không bao giờ có ai lí giải được vì sao vào cái thời khắc u uất ấy của thành phố, với cafe, với quán bar, hàng trăm những khúc tình ngọt ngào và đầy khao khát ấy đã tượng hình. Và khi đã ám vào thời gian và những góc quán cafe, điệu nhạc không bao giờ rời bỏ thành phố nữa, cả tình yêu mà người nghệ sĩ trót sinh ra trên phố xá cũng không di dời đi đâu được. Một thế hệ của những nỗi nhớ thành hình. Ly cafe có thể ngừng tỏa khói. Vị đắng nhuộm cả thời gian trong nỗi buồn quay quắt. Người ngoài trách móc cái thành phố này, sao không vứt bỏ đi những quá khứ để mà sống tiếp, than thở chi mãi những chuyện buồn vô lối thế này.

Nhưng nếu người ngoài có thể ngồi và nghe người đạo diễn già gần như bật khóc khi kể về một lời nhạc sến, ôi tầm thường biết bao nhiêu, với những anh hẹn hò em, anh yêu em, anh mang lá thư tình này về trao em... mà người Sài Gòn xưa chẳng hiểu sao cứ giữ mãi trong mình! Giá mà người ngoài có thể nhìn thấy trong những lời tình tội nghiệp và đơn giản ấy, hàng hàng thế hệ mất đi, hàng hàng những người trai trẻ mất đi, và đầy rẫy thêm những người con gái chỉ biết buồn trong khóe mắt khi lửa chiến tranh vẫy vùng thiêu đốt người họ yêu thương. Những vết đau ấy không thể lành nhanh và gọn gàng như vậy. Không thể nào.

Hãy trở lại với cafe. Ông Hoàng Hữu Phước mà tôi gặp kể rằng, những sinh viên sư phạm như ông thời đó, ngồi cafe với nhau nhưng chẳng nói được gì ngoài chuyện đi học, bài vở, du học, chuyện bạn gái, chuyện gia đình. Những câu chuyện lê thê như ngày cũ đọng lại hoài không trôi đi đâu. Người ta không đủ sức nói những điều to lớn quá, vì con người không mang được trong mình quá nhiều ẩn ức xã hội. Những đôi vai trẻ không gánh được vận mệnh của lịch sử quá bi thương trên đôi vai mình. Và cafe làm nhân chứng cho điều đó. Những con người trẻ cô đơn và yên lặng đó, hoàn thành trách nhiệm của mình, làm công chức, làm thầy giáo, làm nghệ sĩ...với tất cả sự lặng yên giữa những ngày rối ren và xuống dốc nhất của thành phố - khi những đổi dời dường như sắp xảy ra.

Sau này, sau này nữa, tới tận những năm 2007, khi tôi biết ghi nhớ và suy nghĩ, tôi đã nghe người ta nhắc về họ, những trí thức như ông Phước, như kí giả Nguyễn Quốc Thái, như đạo diễn Tường Phương. Họ không phải siêu sao hoặc siêu nhân. Họ là một thành tố rất nhỏ nhưng không phai mờ của Sài Gòn. Họ lao động như ngày xưa, là viên chức, là nhà báo, là đạo diễn, làm việc, yêu công việc và đàng hoàng với công việc. Họ chứng tỏ cho những đứa trẻ như chúng tôi thấy một Sài Gòn có thật, không mất đi và không thể bẻ gãy được, bất chấp những rồ dại và điên loạn đã khuẫy đạp ở nơi này suốt mấy chục năm qua.

Tôi – một người lạ mới đến Sài Gòn – bắt đầu gọi tên li cafe là nhân chứng. Cafe Văn Khoa đã chứng kiến Trịnh Công Sơn hát say sưa bên bạn bè mình với những Khánh Ly, Nguyễn Hữu Thái,... Cafe Givral đã nhìn thấy Phạm Xuân Ẩn sống chết với ước mơ độc lập cho dân tộc mình. Và hàng trăm cái quán cafe khác đã nghe nhạc của Nguyễn Đình Toàn, của Lam Phương, của Phạm Duy, nghe thơ của Nguyễn Tất Nhiên, Trầm Tử Thiêng, nghe lời văn của Túy Hồng, Thụy Vũ, đã thấy Sơn Nam cười móm mém hay la cà với cụ Vương Hồng Sển... Cafe đã pha vào cuộc sống của những trí thức Sài Gòn này một thứ nhiệt tình không thể nào đánh gục được. Họ ước mơ cuộc sống. Họ nguyền rủa cuộc sống. Họ khóc trên những cánh tay thời gian. Họ đi hết những con đường họ chọn lựa, giản dị và bình thường, như thể đến tận lúc đã trở thành nhà Nam Bộ Học, Sơn Nam vẫn dắt xe đạp ra cafe bờ kè ngồi nói chuyện với tụi trẻ vây quanh.

Hôm trước gặp nhau, ông kí giả Nguyễn Quốc Thái bảo tôi: “ cafe ở The Coffee Beans vừa ngon vừa đẹp, vẽ vời bằng caramel lên đỉnh của cái li bọt ngon lành nữa!”

Cafe, ở năm 2011, dù không ngon đến ngây ngất như cafe vớ Năm Dưỡng của ông Hoàng Hữu Phước và thầy đạo diễn Tường Phương nữa, thì vẫn cứ tiếp tục là nhân chứng cho những ngày kế tiếp của thành phố này. Cafe ở nơi này là một nỗi nhớ tha thiết và quẫy đạp. Những nỗi nhớ bẵng lên không trung, gây vào cánh mũi mùi hương tuyệt đẹp của một ngày chưa kịp ám lên khói bụi. Và nỗi nhớ chìm xuống, đọng trong từng giọt cafe đen hoai hoải mùi những hưng phấn.

Lan Phương

(Cảm ơn Sài Gòn, vì cafe và những con người)

Tuesday, March 8, 2011

NHỮNG NGÒI BÚT TÓE MỰC

Khi ta ko thể nói về những người sống đang lam lũ, chật vật hoặc loay hoay đến đáng thương như những đứa trẻ bị vứt bỏ cù bất cù bơ bên đường, ta sẽ nói về những người anh hùng ko mặt xán lạn, rực rỡ, uy phong. Ấy gọi là cứu cánh của lòng nhân đạo. Dù con người ta ở tận đáy bùn, ước ao vĩ cuồng về người anh hùng rực rỡ vẫn đẹp hơn gấp trăm lần những cơn rên rỉ đầy rêu mốc và những lo lắng khắc khoải lẩn quẩn vòng vòng trong thôn xóm.

Khi người ta ko còn bất cứ trăn trở nhọc nhằn nào với sự sống, với việc những đứa trẻ lớn lên sẽ hư hỏng, sẽ giỏi giang, sẽ tài hoa hay sa ngã, người ta nói về một người bị đốt chết. Người ta bới lên những câu chuyện kịch tính thật nhiều mùi tiểu thuyết. Người ta bình phẩm. Người ta tỏ vẻ lo lắng. Người ta cấy lòng thương hại vào tim nhau, cấy sự tò mò ác ý vào mắt nhau, cấy cả những ý niệm cú vọ sặc mùi đắc thắng vào những cái vuốt ve cảm khái đầy phô trương. Đốt. Chết. Truy bắt. Tìm ra. Những trang báo vui thật vui.

Khi những cuộc sống trôi qua, khi những con người rơi lệ và mỉm cười, khi những dòng sông ngừng chảy hoặc cạn dòng, người ta quá bận rộn, ko ai kịp ghi lại. Người ta bâu lấy hồ. Người ta chờ đợi. Người ta giăng mắc những huyền thoại. Những lí luận trỗi dậy. Những thông tin rùng rùng kéo nhau đến như bầy quân tinh nhuệ với lưỡi hái của lòng vô tâm, khai tử những ánh nhìn và lòng bận tâm. Cụ Rùa ăn mèo chết. Đau xót. Cụ Rùa ăn cá chết. Chen chân. Cụ Rùa thoát lưới trở lại hồ. Sẽ mở lại "chiến dịch" bắt Cụ Rùa. Hàng vạn gương mặt soi bóng xuống hồ nước của mấy trăm cuộc đời đã đi qua. Hàng chục hàng trăm cái ống kính xoáy mãi những lời hiếu kì vào hình ảnh Cụ. Những cuộc ngủ mê trỗi dậy thành ác mộng, thành cơn mê muội mà kẻ tỉnh lại ko biết cách nào để quay lại với chừng ấy cái lửng lơ hạnh phúc của niềm quên lãng.

Một bầu trời cứ bay đi theo mây trắng. Một cuộc đời cứ chết đi và sống dậy. Ko ai cần ai. Ko ai bảo ai. Ko ai quan tâm ai. Những ngòi bút tóe mực ra từ hàng chữ trên màn hình desktop. Những dấu chấm câm lặng. Ko mùi vị.

Khải Đơn

Tuesday, April 20, 2010

MỘT “CÁI TÔI” KHÁC


Anh toán sư 35 tuổi, có vợ và một chú mèo. Vợ bỏ đi. Rồi chú mèo cũng bỏ đi. Anh khá giàu có, vì là một toán sư xáo trộn kí hiệu rất giỏi với những hợp đồng béo bở. Anh trữ nhiều whisky trong nhà. Khi nào giận dữ, lo âu, anh chàng nốc khá nhiều whisky.

"Tôi" ở trong thành phố. Nơi có một bức tường thành kì dị chặt chẽ bao quanh, có một bầy thú một sừng lông vàng, có một ông đại tá, lão gác cổng, có Rừng Đen, dòng sông và một cái thư viện. "Tôi" là người đọc mơ, giải phóng những giấc mơ xưa khỏi những hộp sọ cũ kĩ đặt trên giá của phòng đọc sách.

Vào một ngày nọ, chàng Toán sư nhận được một hợp đồng béo bở xáo trộn kí hiệu cho một ông giáo sư già sống bí ẩn trong một căn phòng kì quặc trên tận tầng cao giữa một cao ốc và sâu trong lòng cống giữa những đường thải ngầm.

Vào một ngày kia, "Tôi" đến thành phố, chấp nhận cắt cái bóng khỏi mình, để cái bóng lại cho lão gác cổng giữ, vạch vào mắt những tia sáng kì dị. "Tôi" gia nhập vào thành phố với chức danh "Người đọc mơ".

Hành trình của toán sư là một cuộc hỗn loạn, đảo nghịch, cuồng loạn khi anh phải xếp cuộc sống yên ả của mình lại và đối mặt với những tên khủng bố từ Nhà Máy, đối mặt với sự tra vấn của Hệ Thống, đối mặt với cả cái ông giáo sư vừa ấn vào mình một đống tiền cho cái hợp đồng anh vừa xử lí. Anh phải đối diện với cái sự thực là thế giới của mình chỉ là một căn phòng trống hoác, người vợ và con mèo đã ở đấy, và bỏ đi không một lời. Cả cuộc sống của anh, nhẵn thín và êm mịn như loại sofa anh thích, hoàn hảo như những bộ vest trang trọng anh mua, cẩn trọng và chính xác như cách anh vẫn làm việc 1 tiếng làm, nửa tiếng nghỉ. Bỗng nhiên mà nó bị phá tung ra, bắt đầu từ cánh cửa, tới bộ sưu tập whisky, tới quần áo, tới cả những suy nghĩ và âm nhạc bay bổng trong não anh. Toán sư nhập mình vào cuộc phiêu lưu kì dị mà những kẻ đầy mưu toan đang xô giật anh liên hồi. Bỗng nhiên anh nhận ra thế giới quanh mình nhiều hơn một căn phòng trống hoác cô độc. Toán sư không sợ cô độc, và anh thỏa mãn khi có bản thân mình. Nhưng có một cô thủ thư mê đồ ăn và có bao tử dãn đã mang sách đến giúp anh, ăn sạch cả bếp ăn của anh và ngủ với anh. Cô thủ thư xinh đẹp ấy đã dọn dẹp cuộc đời anh khi những tên khủng bố lao vào nhà và phá phách mọi thứ của anh. Cô đã hiện diện bên anh trong lần làm tình cuối cùng của anh ở "thế giới này", yêu thương anh và chăm sóc anh trước khi não anh ngừng hoạt động vì một con chip toán học mà lão giáo sư cấy vào đầu anh. Ở nơi tận cùng của cuộc sống, anh biết nhìn bọn bồ câu ăn vụn bánh mì, biết nhìn bộ quần áo lót cô gái gỡ bỏ khi ngủ với anh, biết yêu một lời nhận xét "hát như một cậu bé xem mưa" về Bob Dylan của cô gái cho thuê xe. Ở phút cuối cùng của "thế giới này", anh toán sư đã sống và yêu rất nồng nàn chỉ trong vài chục tiếng đồng hồ, để bù lại cho hàng dài những năm lười nhác cô độc của anh...

Mỗi ngày của người đọc mơ là 6 giờ chiều vào thư viện, chạm tay lên những chiếc sọ và giải phóng thứ ánh sáng lạ lùng trôi ra từ đầu lâu. Người đọc mơ dành nhiều thời gian để tra vấn thế giới có những bức tường thành. Tường thành y như một sinh vật, canh me và hút sạch tinh thần của anh. Dòng sông không bao giờ dậy sóng nhưng lại luôn luôn sẵn sàng nuốt chửng thứ gì rơi xuống nó. Cô thủ thư tận tình tuyệt vời nhưng cũng thơ ngây lạ lùng với thế giới của mình. Bầy thú dần chết vào mùa đông, lão gác cổng cắt đầu và thiêu xác chúng. Cái bóng của người đọc mơ buồn bã sống với lão. Nó đối thoại với người đọc mơ với cái khát niệm phải thoát khỏi cái thành phố quái quỷ kì dị này. Nó rạch ròi tìm ra những kế hoạch đưa chủ của nó - người đọc mơ - ra khỏi sự u ám đang đè nặng lên tim anh. Anh đi tìm âm nhạc, đi tìm những câu trả lời, tìm những kí ức đã văng đâu đó khỏi đầu óc mình. Anh sợ mùa đông, nhưng vẫn cố gắng vẽ bằng xong bản đồ cho bóng. Cả hai sẽ tìm cách thoát khỏi cái thành phố đang nuốt chửng trái tim anh và giết dần mòn bóng tội nghiệp của anh. Nhưng cuối cùng, khi tìm ra bản đồ, chọn được đường đi. Anh đã thả bóng thoát khỏi thế giới tù hãm của tường thành nhưng lại quyết định ở lại với nó. Đó chính là thế giới thứ hai vừa bị kích hoạt trong đầu óc của toán sư.

"Xứ sở diệu kì tàn bạo và chốn tận cùng thế giới" - như mọi tác phẩm khác của Murakami, ẩn chứa những ấm ức không nói được thành lời vì nỗi cô đơn gây nên. Hành vi và tình cảm của nhân vật rất lẳng lặng, đôi khi túng quẫn bất thần ập ra như tiếng nức nở như khốn khổ vì quá nhiều biến động và chịu đựng trong vỏ bọc tối giản đến vô hình ấy.

Và cũng như mọi tác phẩm khác của Murakami, tôi thực sự không dám tin là mình đi tìm cái kết thúc của câu chuyện. Cái kết rất đột ngột, nhưng nó báo hiệu một sự thức tỉnh đầy minh triết của cả "người đọc mơ" và chàng toán sư khi họ quẫn bách đi tìm chính mình trong hằng hà sa số những câu hỏi, những ẩn ức và tự vấn khôn nguôi.

Đẹp. Thắt gọn. Và cô đơn...

Lan Phương

Tác phẩm “Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới” (Haruki Murakami) do Lê Quang dịch, NXB Hội Nhà Văn và Nhã Nam phát hành năm 2009.

Sunday, April 11, 2010

TIẾP BIA

Nếu bạn là một kẻ hay nhậu nhẹt và thích lui tới những chốn hơi xô bồ một chút để vui vẻ cùng bạn bè, ắt đã có lúc bạn phải thấy những cô gái tiếp bia.

Tôi gặp chị ấy cũng trong hoàn cảnh nhậu nhẹt lu bù đó.Hình như tôi gặp chị đã vài lần, nhưng có lúc vì mải chuyện quá thì không đếm được cụ thể là gặp chị bao nhiêu lần. Chị có một cái miệng rộng. Cái miệng ấy khi cười lên xinh vô kể. Nó đi song song với cái đuôi mắt kéo rõ dài và trong veo của chị. Thế nên khi chị cười, tôi thấy mình cũng muốn cười với chị. Nếu ai đó trêu chị: "Em ơi, đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng thì..." - Cả bàn nhậu cười - chị cười đáp ngay "đàn bà miệng rộng vẫn sang như thường anh ạ!" - Cả bàn nhậu lại cười.

Không giống như nhiều cô gái tiếp bia khác ở những quán nhậu khác tôi từng gặp, chị không có cái gượng gạo, nhút nhát, cũng không hề thô lỗ cớt nhả. Chị đùa với khách, rất thông minh, rất thú vị. Sau vài lần ngắm chị thật lâu, tôi thích cái ý nghĩ rằng chị thật đẹp. Sinh năm 1982, chị lớn hơn tôi 5 tuổi. Chị mang theo đứa em nhỏ, sinh năm 1991, lên Sài Gòn, đi làm ăn, đi kiếm miếng mưu sinh mà ở quê nhà Châu Thành, Kiên Giang của chị chắc khó có thể nào mơ tới được.

Chị cắt một mái tóc rất hay, dài xả xuống vai, rồi tạo thành một cái góc hơi vuông ở dưới vai một xíu. Duyên dáng lắm. Thỉnh thoảng, tôi bỏ bàn nhậu vào WC thì thấy chị đứng tô lại son môi trước gương. Son môi màu hồng phấn, bóng dịu. Và khi chị mỉm cười, đôi môi với màu son ấy lại làm tôi tưởng đến một người phụ nữ đẹp, như một thứ ánh hào quang mịt mù trải khắp ánh mắt tôi. Tôi thích mấy anh bạn mình trêu chị, vì chị sẽ cười, và chị sẽ đối đáp. Với cả hai, chị đều rất dễ thương. Nếu tôi là một gã đàn ông đang say xỉn ở đấy, có lẽ tôi chẳng thể nào ngừng thích chị được.

Tôi nhận ra chị thật khác biệt bởi tất cả những lời nói của chị. Chúng chứa chất cái thật thà đến hơi ngốc nghếch của cô gái miệt đồng ở quê ra. Chúng chứa chất cả cái ranh mãnh mới học được ở phố thị và những bàn nhậu. Lời nói của chị, nó hàm chứa cả những cái hàng rào, không cho những tên đàn ông nào trót uống say thích đưa tay rờ rẫm lung tung. Chị cười thật tươi. Bia lên thật nhanh. Chị sẵn sàng uống nếu khách mời, chưa bao giờ biết say.

Tôi hay nghĩ về những cô gái miền Tây. Tôi từng gặp rất nhiều người trong số họ. Tôi cũng từng được nghe rất nhiều tâm sự trong những đêm ếch ộp kêu ì oạp ngoài đồng, nằm hiên nhà nhìn trăng lên mù mù mịt mịt. Nhiều cô gái miền Tây đã chăm sóc tôi, kín đáo, yêu quý và dịu dàng như những người mẹ dành cho đứa trẻ. Tôi thích nhìn đôi mắt họ, tròn vo, trong veo, phần nhiều rất vô tư. Và tôi cũng biết luôn là rất nhiều cuộc đời đằng sau những ánh mắt mà tôi yêu quý ấy sẽ dần dần bỏ quê nhà, xứ sở mà ra đi, bỏ luôn con ếch đang ì oạp cô đơn ngoài kia, cốt để tìm được miếng mưu sinh rất nhọc nhằn ở nơi nào xa xôi lắm. Rất nhiều người mãi mãi chẳng về. Rất nhiều thân phận sẽ lên báo như là gái mại dâm, là lấy chồng nước ngoài, là bị hành hạ, là đói khổ cùng cực ở xứ người. Rất nhiều ánh mắt trong veo kia sẽ bị vò xé cho đến mức nhàu nhĩ mờ đục. Miếng ăn của đời là cái bẫy xa hoa. Họ quá trong sáng để hiểu cái gì sẽ diễn ra tiếp theo những màn kịch hào nhoáng mau lẹ. Tôi cũng không hiểu. Không biết chị tiếp bia của tôi có hiểu không.

Nhưng cũng như ngày hôm qua, tôi say mê cái cách chị cười, cái giọng nói hơi khàn và hay đùa thoải mái của chị. Tôi thích đi vào khu WC nữ và nhìn thấy chị đang đứng tô son màu hồng phấn. Tôi thích cảm giác thấy một trong những đôi mắt trong veo của miệt đồng đang thích nghi rất bản lĩnh với cái phố thị tàn nhẫn ở quanh tôi ngay lúc này.

"Nào, nâng li lên, em mời các anh nhé!" - Chị tự tin, và tôi chỉ còn biết nâng cốc vì quá say mê mà thôi....

Khải Đơn

Thursday, April 8, 2010

BÊ TÔNG

Có một người bạn trầm ngâm nói rằng: "Cái thành phố này còn nóng hơn cả trên núi nhà tao!" - Một nhận xét rất tinh tế của kẻ vừa mới từ trên núi xuống thăm đứa bạn ngày nào cũng vi vu ngoài đường suốt cả những giờ trưa nắng.

Sài Gòn này bị ứ đọng bởi bê tông - hay tất cả những loại chất liệu kiểu kiểu giống nó như nhựa đường, xi măng, vốn có thể trát kín bề mặt lồi lõm của đất và trải phẳng lên đến tận cao vút cách mặt đấy mấy trăm mét. Cả thành phố hóa thành tấm gương phản chiếu. Khi mặt trời lững thững đi qua buổi trưa hè, nắng gay gắt phóng vào những cái bề mặt phẳng lì, đọng lại đó và rồi đun nóng cả thành phố lên giữa cả buổi ngày u uất. Đó là chuyện tất yếu của bê tông- ai thích sạch sẽ, thích phẳng lì, thích bền vững thì phải luôn chuẩn bị tinh thần cùng với những ưu điểm đó mà gồng mình lên chống lại thiên nhiên. Đó là tiện nghi.

Nhưng đôi khi bê tông lại là một căn bệnh, mà ắt phải là một thứ bệnh cố hữu không biết làm sao mà giải quyết cho được. Đây đó giữa lòng thành phố, có vài con đường mang trên mình những thân cây cao vút tuyệt đẹp. Cây xưa. Mấy ông già bà già vẫn tấm tắc nhớ nhung cây xưa, gốc cũ, rồi cứ thế mà mặc định là mình yêu quý những con đường đó. Càng hiện đại thì những con đường càng được tráng nhiều lớp nhựa, nén nhiều lớp đá, bê tông,xà bần... Ôi thôi, cứ có cái gì có thể nén lên mà làm mặt đường xinh đẹp thì người ta làm tất. Và bỗng nhiên, một ngày nọ, cây xưa nổi hứng bật rễ ra khỏi cái vòng tròn bé xíu mà người ta lát gạch chung quanh quy định cho nó đứng. Cây xưa dường như đã ăn quá nhiều dinh dưỡng từ lòng đất thành phố tới độ nó bỗng nhiên muốn thoát khỏi cái vòng kìm tỏa nhỏ con con mà suốt nhiều chục năm nó phải chịu đựng. Rễ bung ra, theo kiểu một thứ sức mạnh không thể kìm nén của thiên nhiên ban cho nó trong suốt gần cả trăm năm lưu cữu ở chốn trần gian này. Thế là những mảng nhựa đường, gạch nén, bê tông...đuối sức cứ thế thi nhau mà đội lên, vỡ ra, nứt nẻ. Con đường thành xấu xí. Sức mạnh của người bỗng nhiên mà trở nên dại dột và thơ ngây vô cùng trước một cái rễ khổng lồ của sự sống.

Tất nhiên là người không chịu thua. Thế là sẽ có vài anh công nhân của công ty cây xanh đô thị nhào tới, chụp lấy cái rễ, á à chúng mày dám trồi lên mặt đường à, rồi cứ thế mà cắt bỏ “rễ thừa”, cứ thế màmang xe, búa, máy cắt tới, cứ thế mà ...xây lại cái vòng tròn quy hoạch cho chỗ đứng của cái cây. Đường phố lại đẹp. Cây cối thì nên biết nghe lời. Chẳng mấy chốc sau thì cái cây èo uột dần rồi “được” quy hoạch là sẽ cắt bỏ để đảm bảo an toàn cho người đi đường vì sợ cây đổ. Cứ thế, cứ thế, bê tông đi cùng với cái não trạng rất thừa quy định quy hoạch nhưng thiếu hẳn đi tình thương với sự sống. Bê tông tràn chiếm không gian, hạ gục những đoạn đường đầy ắp bóng cây xanh. Bê tông trải nên những con đường mới thênh thang và diệu vợi trong cuộc tranh đấu dành chỗ với không biết bao nhiêu sinh vật khác trên con đường nó hành trình đi phục vụ đô thị này.

Rồi một ngày nào đó, bê tông sẽ nhiều đến nỗi nó trở thành ám ảnh. Như một nghiên cứu xa vời nào đó ở tận trời phương Tây bảo rằng con người muốn tự tử nhiều hơn khi những tòa nhà vuông vức cứ thế tuôn lên tràn chiếm bầu trời. Ở đó, người ta cố nghĩ ra những tòa nhà có hình dạng không vuông vức, có nhiều đường cong dịu mắt hơn. Tại sao con người phải tự tử vì chính cái thứ mình tạo ra như thế? Khi bê tông leo lên những nấc trời cao mới, nó ngang nhiên biến thành tấm gương phản chiếu, thản nhiên mà trở thành một vệt gươm kim loại sọc thẳng vào trái tim rất sinh vật và tự nhiên của con người. Con người – trong tiến trình xâm lăng thế giới của mình – đã chế ra rất nhiều thứ vô tính và cả vô nhân tính nữa. Khi những thứ ấy đầy ắp khắp xung quanh, con người trở thành sinh vật duy nhất còn biết thở bị cô lập và ép dồn đến góc đường cụt của sự cô đơn. Đó là khi hành vi tự tử bắt đầu.

Bê tông sẽ không dừng lại ở đó. Nó đã trát đầy cả tâm trí con người phố thị. Chẳng cớ gì mà ngày xưa khi xây nhà người ta luôn cố chừa một góc đất nho nhỏ để trồng cây xanh, làm chỗ cho con thú nhỏ trong nhà chạy nhảy. Giờ đây, người ta xây những căn nhà khổng lồ, với những cái hàng rào chặt chẽ như pháo đài, những chiếc cổng to như cổng thành, nhưng người ta sẽ xây trọn vẹn cả căn nhà vào mảnh đất đó, hoặc sẽ lát xi măng cho kín chặt tất cả những chỗ nào có hở mặt đất ra. Lí lẽ giản dị nhất là : “Cho sạch!” – Con người trở thành những kẻ sạch sẽ ghê tởm thiên nhiên bám rễ vào cuộc sống của mình.

Cái thứ bê tông “cho sạch” ấy nó sẽ trát kín kẽ tất cả những khéo léo và gần gũi mà con người từ thuở niên thiếu đã được nuôi dưỡng chung với dòng máu của tự nhiên. Người thành phố sợ không dám rửa tay trong lu nước có con lăng quăng. Người thành phố sợ ăn trong cái mâm cơm đặt dưới nền nhà của ông già nhà quê. Người thành phố tởm cái cách người quê đưa gáo nước mát lành chứa trong lu đất lên miệng uống. Người thành phố tởm sợ và hãi hùng trước những cái lí lẽ rất tự nhiên của cuộc sống mà những con người khác họ đang trải nghiệm ở những vùng miền khác nhau. Người thành phố chỉ uống nước khoáng Lavie, ăn cơm trên mâm đặt ở cái bàn sang trọng giữa nhà, rửa tay phải dùng xà bông Life Buoy diệt khuẩn. Rồi người đô thị sẽ còn tiếp tục trát thêm nữa những lần bên tông mới lên thân thể họ, trí não họ, mạch máu họ, cốt để làm sao hóa mình thành kẻ duy nhất tuyệt mĩ trong cái dòng chảy rất chung của sự sống còn của thiên nhiên khổng lồ này.

Trong một cơn ác mộng, những con đường sẽ bị xé tung toác ra vì một cơn bão. Những tòa nhà khổng lồ sẽ nứt và gãy vỡ liểng xiểng như những mảnh kính mong manh trong tay động đất. Bê tông bể gãy, con người bể gãy, cả thế giới chỉ còn là cái hình hài bể nát đầy những vết đứt gãy hoảng loạn từ chính những thứ họ cố công tạo ra. Giá mà họ còn yêu mặt đất đủ nhiều, giá mà họ nghĩ đến những cái rễ cây như một cái nguồn mạch chảy ròng ròng máu khi họ giáng xuống những nhát cưa thô bạo và trám vào những lượt xi măng, gạch nén rất khô khốc ấy, giá mà... thì họ sẽ không kiêu hãnh tiếp tục những cuộc chơi điên cuồng với bê tông như bây giờ.

Cả phố thị này sẽ ứ đầy xà bần, cả trí não con người cũng vuông vức chảy theo những vết miết xi măng cố định. Kết nối với sự sống dần sai lạc. Con người tiến xa hơn nữa trên con đường đến với cái chết tuyệt vọng của mình trên bục tự tử từ tòa nhà bê tông cao chọc trời nào đó....

Khải Đơn

DÂM ĐÃNG

Dạo này nghe toàn mấy chuyện kinh dị, mà thứ chuyện kinh dị nhiều nhất là chuyện xoay quanh hai cái từ hết sức nhạy cảm này.

Có một ngôi trường ép mấy chục đứa học trò đứng ngoài cổng trường vì tụi này dám mặc váy quá cao...đến đầu gối. Theo nhà trường thì váy của nhà trường dài hơn. Tức là các em mà ăn mặc hở hang trên mức quy định thì cấm vào trường. Chuyện đồng phục ngày nay thật là nhiêu khê, thật nhiều cái đẹp tao nhã quá mức. Ngày xưa khi tôi đi học, các thầy cô bắt chỉ được mặc quần tây, áo trắng, ko hoa hòe lá hẹ gì hết. Các thầy cô bảo: Như thế khi tới trường các em sẽ không phân biệt giàu nghèo gì cả. Ai đến trường cũng giống nhau. Nghe thật là chí lí!

Nhưng chẳng hiểu vì sao độ 4-5 năm gần đầy, các trường ở thành phố lớn (ví dụ như TPHCM) hình như quên mất cái ý niệm giản dị và bình đẳng ban đầu của bộ đồng phục học sinh. Họ gắn lên mình bộ quần áo những nghĩa vụ thiêng liêng mới. Áo - phải thêu phù hiệu tròn bên vai trái (nếu trường đã bảo vai trái mà dám thêu vai phải thì đời mày lúa ru`i nha học sinh). Quần - giờ đây không phải quần nữa - mà là váy, xà-rông, đầm,... Miễn sao có phong cách riêng là ổn. Trường trường đua nhau design đồ học sinh. Thầy thầy đua nhau bán đồng phục học sinh. Lớp lớp thi đua xem ai mua nhiều đồng phục trường bán ra. Trường bán, em nào dám không mua? Ngay cả mẹ của em học sinh đó có là cái bà thiết kế thời trang nổi tiếng cỡ nào thì cũng phải vác mặt tới ngậm bồ hòn làm ngọt mua đủ trọn bộ 2-3 cái váy/áo học sinh cho con mình cả năm. Đôi khi giá của chúng ở tít trên trời. Nhưng trời thì đã sao, nghĩa vụ đối với thầy thì học trò dù có phải xây cả cầu Kiều còn dám xây cơ mà. Trời không cao lắm, bỏ vài trăm nghìn mua váy thì coi như leo tới nơi rồi.

Thế nghĩa là từ cái môi trường giáo dục vẫn được tuyên truyền là bình đẳng và kỉ luật kia nó sinh ra một cái "thị trường" mới, thị trường của áo váy, nón, cravat, giày, và có khi là cả...quần và balo như đại học Hồng Bàng có thời từng "chơi nổi" trong giới đại học. Nó giúp các thầy có một khu vực "được nới rộng" trong không khí sư phạm, đủ để họ có thể kinh doanh và chống lại cơn nghèo khổ cố hữu mà nghề giáo dục cao quý buộc họ phải cắn răng chịu đựng. Đồng phục bỗng nhiên vừa là cứu cánh văn minh của cái đẹp thời trang học đường, vừa là miếng cơm ngọt lành của những ai đó thầu những món bở đắt tiền từ những cái váy - xà rông may cẩu thả và vội vã.

Nhưng bỗng nhiên rồi các em học trò lớn. Các em ấy chẳng mê những cái váy quê mùa mà theo con mắt vừa có giáo dục vừa lịch thiệp của các thầy và nhà thầu đồng phục là "hợp lí". Hãy nhìn xem những tấm ảnh hay những em học sinh ngoan ngoãn ngoài đường, những cái váy học trò các em mặc dài qua đầu gối một đoạn quá xa, nếu em nào lùn có khi nó kéo gần tới mắt cá. Ở nhiều trường, độ rộng váy rất hẹp. Ở tuổi của các em, các em sẽ chạy nhảy thế nào với một cái váy vừa dài vừa hẹp như cái xà rông nhỉ? Và khi các em và cha mẹ cắt bớt nó đi thì các thầy - chính những đôi mắt có giáo dục và lịch thiệp - lại quay lưng từ chối các em chỉ vì...váy ngắn. DÂM ĐÃNG. Ở đâu người ta cũng sợ cái từ này, sợ như thể một cơn thèm thuồng vừa kín vừa hở, vừa tội ác vừa khao khát. Không biết khi đến trường các thầy đã giấu cái sợ và sự thèm khát ở đâu để sẵn sàng kết tội các em là "bất hợp lí" và cấm các em vào trường. Dường như người ta sợ cái gì đó mà không dám may cho các em những bộ váy lửng cao một chút, rộng một chút, để tuổi thiếu niên của các em còn tha hồ đùa nghịch, năng động. Dường như người ta sợ một cái gì đó mà không dám thừa nhận/đón nhận những cái váy ngắn hơn tung tăng vào cổng trường. Không ai định danh được nỗi sợ. Tôi chỉ dám lém lỉnh nghĩ là người ta đang chối từ cái bản năng dâm đãng như thể tự tôn mình là kẻ cao quý cần xa lánh cái phàm tục đến mức phải tống cổ tụi nhỏ ra ngoài cổng trường thay vì đối thoại với hành vi "cắt ngắn váy" của các em.

Váy học sinh: thực ra không làm những kẻ dâm đãng bớt dâm đãng hơn. Bởi vì cho dù cái váy nó có dài qua mắt cá chân đi nữa mà có kẻ muốn biết bên dưới váy có gì thì những chiếc điện thoại có quay phim/chụp hình và những ánh mắt thèm muốn vẫn hướng về đó thôi. Và dù cho chiếc váy có cao hơn đầu gối chút xíu mà đám trẻ vô tư chơi đùa, vô tư học, vô tư lớn thì âu cũng chẳng phải cái tai họa gì khủng khiếp hay kinh tởm đến mức phải đóng cửa, ép chúng đứng lê la ngoài cổng trường như một kiểu chối bỏ giáo dục đầy trẻ con và hèn hạ.

THẤT BẠI CỦA NGƯỜI THẦY: là khi từ bỏ đứa học trò hư hỏng của mình.

Tuy nhiên, sự dâm đãng, thất bại hay danh tiếng không quan trọng như những chiếc váy dài khổ hẹp bó chặt lấy cái sự cựa quậy rất năng động đang trỗi lên trong cuộc trưởng thành của những đứa trẻ. Có những niềm vui rất tung tăng, bị mất bẽ bàng, chỉ vì cái váy buộc em nữ sinh phải co kín thân mình và khép nép làm duyên một cách trống rỗng đến tội nghiệp. Lạ thật, các em có cả đời là phụ nữ để mặc váy, mà sao người lớn cứ phải khăng khăng hành hạ cái thuở thiếu thời rất vô tư của các em như thế nhỉ?


VÀ NẾU VÌ CHIẾC VÁY DÀI HƠN MÀ NGƯỜI THẦY ÍT DÂM ĐÃNG HƠN THÌ ĐÓ QUẢ LÀ SỰ BẤT LỰC LỚN CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM SƯ PHẠM ĐẠO MẠO ĐẾN TỘI NGHIỆP NHƯ BÂY GIỜ....

Khải Đơn